Tôi lớn lên ở một làng nhỏ vùng Tasmania. Mọi thứ cần dùng chúng tôi tự làm ra. Chúng tôi tự làm lấy giày đi, tự làm lấy đồ kim khí, chúng tôi bắt cá, trồng lương thực, làm bánh ăn. Tôi chẳng thấy ai sống ở đây mà chỉ làm một việc, hoặc một thứ gì đó có thể gọi là công việc. Mỗi người đều làm nhiều công việc.
Cho đến năm 28 tuổi, tôi sống như một giấc mơ. Ngày ngày tôi sống trong bụi cây hoặc trên mặt biển. Tôi đánh cá, tôi săn bắn để sinh sống. Phải đến những năm 1950 tôi mới nhận thấy xung quanh không còn như trước nữa, rong tảo trên bờ biển thưa thớt dần, từng khu rừng lớn bị tiêu diệt. Phải đến lúc đó tôi mới nhận ra tôi đã yêu môi trường của tôi đến chừng nào, thiết tha yêu xứ sở của mình đến chừng nào.
Sau nhiều năm làm công tác khoa học ở Cục giám sát thú rừng CSIRO và Bộ Thủy sản nước ngọt ở Tasmania, tôi bắt đầu phản đối hệ thống chính trị và công nghiệp đương giết chúng tôi và giết thế giới quanh chúng tôi. Nhưng tôi cũng nhận ra rằng đối lập cuối cùng cũng chẳng đem lại gì. Tôi rời khỏi hoạt động xã hội trong 2 năm, chẳng muốn phí thì giờ để phản đối; và chỉ muốn quay trở lại khi đã tìm ra một cái gì rất thiết thực, tích cực, tìm ra một giải pháp giúp chúng ta tồn tại mà không gây ra sự sụp đổ hoàn toàn của hệ thống sinh học.
Năm 1968 tôi bắt đầu giảng dạy ở trường Đại học Tasmania, và năm 1974 David Holmgren và tôi cùng nhau thiết kế cho một hệ thống nông nghiệp có sức chống đỡ, nền đa canh, cây đa canh, cây bụi, có rau cỏ, nấm, cây ăn củ. Tôi tạo ra từ Permaculture để chỉ hệ thống nông nghiệp này. Chúng tôi dành nhiều thì giờ để tìm những nguyên lý của Permaculture và xây dựng một vườn cây có nhiều loài. Năm 1978, Permaculture One được xuất bản; năm sau, Permaculture Two ra đời.
Dư luận của công chúng đối với “Permaculture” không thuần nhất. Cộng đồng các nhà chuyên môn tỏ ra bất bình vì chúng tôi kết hợp kiến trúc với sinh học, nông nghiệp với lâm nghiệp, lâm nghiệp với chăn nuôi gia súc; đến mức những người tự coi mình là chuyên gia cảm thấy bị xúc phạm. Nhưng phản ứng của người dân thường thì khác hẳn. Nhiều người đã suy nghĩ về vấn đề này theo một tư tưởng như chúng tôi. Họ không tán thành đường lối nông nghiệp hiện nay, họ hướng về những hệ thống hợp với thiên nhiên, hợp với sinh thái.
Trong những năm 1970, tôi coi nông nghiệp bền vững như một tổ hợp cây và con có lợi cho việc định cư, chủ yếu nhằm tự túc cho gia đình và cộng đồng và để trao đổi hàng hóa với bên ngoài nếu trong hệ thống có một phần dư thừa. Tuy vậy nông nghiệp bền vững mang một ý nghĩa rộng hơn là việc tự túc lương thực cho nông hộ. Tự túc lương thực cho nông hộ trở thành vô nghĩa nếu nông dân không có quyền sử dụng đất đai, quyền được thông tin và được cấp vốn. Vì vậy trong những năm gần đây permaculture bao gồm cả chủ trương tài chính và chiến lược thích hợp hợp pháp, gồm chiến lược cấp đất, cấu trúc kinh doanh và huy động vốn trong vùng. Tiến trình đó là toàn bộ chiến lược con người.
Năm 1976 tôi giảng dạy về permaculture; năm 1979 tôi xin thôi việc; và tuy tuổi đã cao tôi đi vào một con đường mà tương lai còn mờ mịt. Tôi quyết định dành toàn bộ công sức thuyết phục nhân dân xây dựng những hệ thống sinh học ổn định. Tôi kiếm cá, trồng khoai để sống. Năm 1981, lớp học viên tốt nghiệp thiết kế về nông nghiệp bền vững thực hành ra trường, họ triển khai thiết kế hệ thống nông nghiệp bền vững ở Australia. Hiện nay đã có trên 4000 học viên tốt nghiệp hoạt động ở nhiều nước trên thế giới, tham gia vào các mặt công tác môi trường và phúc lợi xã hội.
Bill Mollison
(Trích Lời nói đầu của cuốn sách Introduction to Permaculture (1991), được NXB Nông nghiệp dịch ra tiếng Việt năm 1994)
Bill Mollison on Wikipedia:
http://en.wikipedia.org/wiki/Bill_Mollison